Thiền phật giáo trong thời kỳ hội nhập


 

(PGVN)

Tầm quan trọng của Thiền là nhằm chế ngự và chuyển hóa các tâm bất thiện, nhưng tùy vào tập khí nghiệp và chủng tử của mỗi cá nhân, sự tập luyện nghiêm túc theo giáo pháp mới có thể vượt qua được.

Nhận thức về Thiền

 

Bắt nguồn từ chiếc nôi Phật giáo Ấn Độ, ngày nay phương pháp thiền học của đức Phật được giảng dạy rỗng rãi khắp nơi trên thế giới. Trong tinh thần “Tùy duyên bất biến”, Thiền phật giáo đã hòa nhập và phát triển cùng văn hóa của mỗi quốc gia tạo nên các dòng thiền với nhiều sắc thái linh động khác nhau.

Tại Việt Nam, Thiền được chư vị tổ sư kết hợp hài hòa với văn hóa và uyển chuyển đi vào cuộc sống tạo nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Có thê nói, Thiền là tinh hoa vi diệu của Phật giáo với tôn chỉ duy nhất là sự giác ngộ hướng đến giải thoát khổ đau hoàn toàn, nên hầu hết các tông phái Phật giáo đều dùng thiền làm căn bản cho sự tu tập trên con đường cải thiện tâm linh. Đây là tiến trình giải thoát thiết lập vững chắc trên ba giai đoạn: giới (Sìla), định (samàdhi) và tuệ (pannà).

 

Thiền, theo ngôn ngữ gốc Pàli “Bhàvanà” có nghĩa là “sự luyện tập, trau dồi hay tập cho quen dần”, nhưng do kinh sách dịch thuật thường có sự nhầm lẫn giữa hai từ Bhàvanà với Jhànaa (định: trạng thái tâm tĩnh lặng trong thiền) nên thiền trở thành bí ẩn và khó hiểu đối với người muốn tu tập. Thật ra, thiền có hai loại thực hành căn bản là Samatha Bhàvanà (Thiền chỉ hay Thiền định) và Vipassanà Bhàvanà (Thiền quán hay Thiền tuệ). Sự khác biệt chủ yếu giữa hai loại thiền này cho thấy Thiền chỉ là giúp hành giả đạt được tâm an tịnh, làm giảm bớt phiền não nhưng không hoàn toàn đoạn tận khổ đau; trong khi đó Thiền quán có khả năng đoạn tận gốc phiền não nhờ phát triển tuệ giác về vô thường, khổ và vô ngã. Thiền chỉ có trước khi đạo Phật ra đời và Thiền quán là sự khám phá vĩ đại của Đức Phật đã cống hiến cho nhân loại.

 

Theo sử liệu Phật giáo ghi nhận, đức Phật là một bậc Đại Trí Tuệ và từ bi thuộc nhân vật lịch sử chứ không phải là một nhân vật thần thoại. Cách đây hơn 26 thế kỷ, sự thành tựu đạo qủa vô thượng chánh đẳng chánh giác của Ngài là sự tu hành trải nghiệm qua con đường Thiền định (Samatha) và Thiền tuệ (Vipassanà) để tịnh hóa dòng tâm thức và đoạn tận khổ đau. Tuy nhiên, thực hành thiền Phật giáo không chỉ giới hạn dành riêng cho phật tử tu tập mà còn áp dụng chung cho bất cứ ai đau khổ hướng đến mục tiêu tâm linh cao cả nhất của sự giác ngộ và giải thoát hoàn toàn. Sự rèn luyện tâm thức theo phương pháp thiền là từng bước thanh tịnh tâm, chuyển hóa mê lầm thành hiểu biết sáng suốt và cuối cùng vượt thoát phiền muộn, khổ đau đạt đến hạnh phúc chân thật. Nhìn chung, áp dụng thiền trong cuộc sống của bất cứ thời đại nào đều sẽ  giúp con người biết sửa chữa những sai lầm cá nhân và sống phù hợp với quy luật tự nhiên.





Giáo dục Thiền nhằm đáp ứng nhu cầu tâm linh trong thời kỳ hội nhập.
 

 

Trước đây người ta vẫn thường có những nhận định sai lạc về Thiền Phật giáo vì cho rằng: Thiền là một pháp tu mang tính tâm linh huyền bí cao siêu chỉ dành riêng cho người tu hành giải thoát chứ không liên quan gì đến thế gian. Thật ra, Thiền là sự tu luyện bên trong dòng tâm thức con người, nó vốn trừu tượng, mênh mông, nếu không có người có kinh nghiệm hướng dẫn sẽ dễ bị rơi vào hoang tưởng và khủng hoảng tinh thần hay còn gọi là “tẩu hỏa nhập ma” … Chính vì yếu điểm này đã làm cho Thiền dường như bị đóng khung trong nhà phật mà không mấy ai hiểu hết giá trị cao quý của Thiền và không dám thực tập Thiền trong cuộc sống.

 

Tuy nhiên, dưới ánh sáng văn minh của thời đại khoa học, con người lật ngược quá khứ để nghiên cứu về tôn giáo thì không một học giả nào có thể phủ nhận được sự đóng góp to lớn của Phật giáo nói chung hay pháp môn Thiền nói riêng đối với nhân loại trong tất cả các lĩnh vực. Trong đó, lĩnh vực giáo dục con người là một lĩnh vực quan trọng được Đức Thế Tôn nhắc đến nhiều lần và đồng thời Ngài đưa ra những phương thức giáo dục con người là bằng hành động cụ thể chứ không phải là một triết lý hay một luân lý suông để bàn luận. Sự áp dụng lời dạy của đức Phật không chỉ tác động lớn đến đời sống cá nhân mà còn ảnh hưởng sâu rộng đến xã hội nhân sinh, như khoa học gia Albert Einstein đã từng nói: “Phật giáo là một tôn giáo khoa học đã có những đóng góp vĩ đại cho nhân sinh”.

 

Phương thức giáo dục hữu hiệu nhất trong Phật giáo là nhấn mạnh trên từng giáo dục cá nhân để tự nhận biết trách nhiệm trong tập thể, vì mỗi con người có một khả năng nhận thức, tình cảm, trí tuệ và môi trường sống khác nhau. Cũng vậy, đức Phật dạy mỗi chúng hữu  tình hãy tự làm chủ chính mình, hãy làm chủ những giấy phút hiện tại trong cuộc sống, đây là một trong những cách giáo dục đặc sắc mà Ngài đã truyền dạy trong kinh, Phẩm “Cây lau” (1)

 

“Không tham việc đã qua,

Không mong việc sắp tới,

Sống ngay với hiện tại,

Do vậy, sắc thù diệu.

Do mong việc sắp tới,

Do than việc đã qua,

Nên kẻ ngu héo mòn,

Như lau xanh lìa cành”

 

Ngày nay, khi nghiên cứu về tâm lý giáo dục hiện đại, nhất là ngành tâm lý trị liệu, chúng ta sẽ bắt gặp nhiều người bị rối loạn tâm lý,  tinh thần sầu muộn, … những trường hợp này đa phần đều do tư duy không lành mạnh của cá nhân. Nhất là những tư duy về quá khứ không thiết thực cũng như các mơ ước tương lai hão huyền khiến con người mất tự chủ, tồi tệ hơn là đánh mất chính mình. Chính vì vậy, giáo dục Thiền học giúp con người làm chủ cảm xúc của tự thân là một nhu cầu thiết yếu không thể thiếu trong thế giới hiện đại. Khi nhân loại càng tiến đến đỉnh cao của nền văn minh vật chất, chính là lúc con người cần phải tu tập giá trị tâm linh để quân bình trong cuộc sống.

Trên thực tế, thời kỳ quốc tế hội nhập và phát triển là cơ hội để con người thăng hoa trong cuộc sống, nhưng  trái lại họ càng trở nên bận rộn, mệt mỏi và chịu nhiều áp lực khi phải đối diện với những thách thức và cạnh tranh. Với phương tiện khoa học tân tiến đã làm tăng thêm nhịp sống hối hả và lo toan, khiến người có cảm giác như không còn đủ thời gian để thực hiện mọi công việc hằng ngày.

Có thể nói, ước mơ tìm về cuộc sống lý tưởng của con người đã đánh đổi tất cả sức lực và tài năng của mình để rồi chưa bao giờ tìm thấy hạnh phúc. Như vậy, một nền giáo dục nhân bản trao truyền về kiến thức, thể dục, đức dục, mỹ dục, sinh lý và lao động vẫn không thể nói lên được ý nghĩa toàn diện của hạnh phúc. Con người, nhất là tuổi trẻ ngày nay đang ngày càng có nguy cơ rơi vào tình trạng thái hóa, suy đồi về đạo đức. Các trang thông tin truyền thông trên báo chí, truyền hình đã phản ánh về những câu chuyện thương tâm trong học đường cũng như trong đời sống xã hội đang diễn ra ngày một phức tạp hơn. Điều này như một hồi chuông cảnh tỉnh cho mỗi người hãy sớm nhận biết giá trị giáo dục tâm linh. Con người cần phải được đào luyện về phương thức sống định tĩnh, làm chủ được chính mình và biết buông xả hơn trong cuộc sống. Thiền Phật giáo chính là giải pháp cấp bạch và hữu hiệu nhất cho con người và xã hội ngày nay, vì Thiền có khả năng rèn luyện và chuyển hóa dòng tâm thức vượt qua tham ái trói buộc của tự ngã để có một cuộc sống an vui và hạnh phúc thật sự.

 

Hiện nay trên thế giới. từ Ấn Độ cho đến phương Tây, Thiền học đã và đang được phổ biến rộng rãi trong các lĩnh vực của cuộc sống. Tại Ấn, giáo dục thiền được áp dụng trong các trường học đã giúp các em có một hành trang vững vàng khi bước vào đời với sự tự tin chính là nhờ kỷ luật Thiền: “Tỉnh giác và buông xả”. Các binh lính, công an và một vài công sở thuộc hệ thống lãnh đạo của nhà nước Ấn cũng được học và thực tập thiền. Không những vậy, giáo dục thiền được mở rộng đối với cả các tù nhân hay những người nghiện ma túy; những khóa thiền 10 ngày được mở ra định kỳ mỗi tháng tại các nhà tù lớn đã phần nào làm thay đổi nhận thức của tù nhân.

Một minh chứng cho thấy phương pháp thiền Vipassana đã đạt được những thành tựu lớn trong công cuộc cải cách nhân phẩm tù nhân vào năm 1994 tại nhà tù Tihar với sự tham gia của 1000 tù nhân. (2) Về tình cảm, giáo dục thiền học giúp con người phát triển khả năng tập trung để đạt được sự tĩnh tâm, nhờ đó cuộc sống trở nên sáng suốt phấn khởi, hân hoan và hỷ lạc.
Về tâm lý, giáo dục thiền học là quá trình chuyển đổi tâm lý từ thụ động sang tích cực; từ tham, sân, si – nguồn cội của tội lỗi, khổ đau trở thanh vô tham, vô sân, vô si – bến bờ của thánh thiện, hạnh phúc.

Thực hành thiền hàng ngày giúp tâm thức con người ổn định về sức khỏe, duy trì tốt ký ức, làm tăng trưởng khả năng tập trung tư duy và sáng tạo nhất là đối với tuổi trẻ; nếu biết tập luyện thiền sẽ có sự tiếp thu kiến thức tốt hơn và loại bỏ các tâm lý mệt mỏi, thụ động, chán nản, sầu muộn, triệt giảm đam mê các trò chơi điện tử và những thú vui cám dỗ khác. Thiền học nếu được áp dụng triệt để trong cuộc sống chắc chắn sẽ trở thành nhân tố tốt cho nền giáo dục nhân bản và toàn diện.

Thiền như một nghệ thuật sống

 

Chúng ta đã biết, mỗi người trên đời này ai cũng mong muốn có một cuộc sống an vui và hạnh phúc. Tuy nhiên, không mấy ai thực hiện được điều này trọn vẹn trong khi tâm vẫn còn nhiều phiền muộn, bất an, vì chính nỗi khổ cá nhân sẽ tác động một cách tiêu cực đến cuộc sống của họ và những người xung quanh. Trong một gia đình hay đoàn thể, nếu có một cá nhân đau khổ thì người quanh họ sẽ bị ảnh hưởng chung, đó là quy luật tương tác tự nhiên. Cũng vậy, một người an vui mới có thể sống  hòa hợp, đem lại sự vui vẻ giữa mọi người với nhau.

Ở đây, Thiền Phật giáo là phương pháp thực tiễn giúp con người tìm về niềm an vui thật sự cho chính mình; vì cốt lỗi của thiền có thể giúp con người từng bước tập luyện tâm thức, làm chủ được hành vi của cá nhân. Ngay khi dòng tâm thức bất thiện khởi lên, hành giả sẽ nhận diện ngay nhờ phương pháp thiền tỉnh giác và với tuệ quán nó sẽ đoạn diệt trước khi biểu hiện ra bên ngoài hành động; dĩ nhiên, thực hành điều này hoàn toàn không phải là cách đè nén cảm xúc vào bên trong tạo thành phức cảm không giải tỏa được.

Muốn hành trì được cần phải có sự hướng dẫn từ những người có kinh nghiệm và đã thành tựu trên con đường giới, định, tuệ; điều này có thể được xem như một nghệ thuật để điều phục và kiểm soát tâm mình trong từng khoảnh khắc, đồng thời phát triển khả năng tỉnh giác và buông xả để đạt được cuộc sống an lạc cho chính mình và cho mọi người xung quanh. Đây chính là kỹ thuật vi diệu của Thiền dùng để diệt tận tâm bất thiện, tham, sân, si – gốc rễ của phiền muộn.

Như vậy, tầm quan trọng của Thiền là nhằm chế ngự và chuyển hóa các tâm bất thiện, nhưng tùy vào tập khí nghiệp và chủng tử của mỗi các nhân, sự tập luyện nghiêm túc theo giáo pháp mới có thể vượt qua được. Đa phần, khi con người va chạm với những thất bại trong cuộc sống như về tình cảm, công việc,… Nếu không thể giải quyết được thì họ chọn phương án trốn tránh hay tìm mọi cách để phủ nhận sự thật ấy. Riêng đối với người biết áp dụng Thiền định trong cuộc sống thì họ sẽ biết chấp nhận sự thật và tìm cách giải quyết tích cực có trí tuệ, có nghĩa là người này dám đối diện với sự thật không mong muốn bên trong chính mình bằng Thiền quán, đồng thời qua kỹ thuật hành trì thiền, quán chiếu bằng tuệ giác về hiện hữu của vô thường, vô ngã khổ, để không tạo nghiệp và đoạn trừ nghiệp, từ đó hướng đến sự giải thoát an vui. Tức là họ không mắc sai lầm, sâu xa hơn là không mắc vào vòng lao lý hay tự hủy hoại bản thân.

Tuy nhiên, tùy nhân duyên của mỗi người tìm về Thiền học để áp dụng như một nghệ thuật sống trong cuộc đời. Chúng ta có thể hiểu thiền dưới nhiều phương diện, khía cạnh khác nhau, nhưng đặc tính chung nhất đối với người sống Thiền đó là sự an lạc đích thực và rất hữu ích cho nội tâm cũng như các lĩnh vực trong cuộc sống của con người. Thiền thực sự là một nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống ở mọi thời điểm, là một phương thuốc hay chữa lành các căn bệnh khổ đau của tâm; đồng thời là một nghệ thuật sống không bao giờ lạc hậu để áp dụng vào cuộc sống cá nhân và hầu như đem lại lợi ích cho nhân sinh, thế giới.
(Chùa Hồng Trung Sơn, Nam Cát Tiên, Tân Phú, Đồng Nai)
Tỳ kheo Ni Hằng Liên